BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Z5410018790845_712954d633988c69c0db8a699da85c5a.jpg Z5410018793923_c71c986d353a9f6630b404277eec7c43.jpg Z5410018795583_8546709a55db80319132979bdd9e1589.jpg Z5410018484779_ff30b5284dc07ddf93c2630703737c44.jpg Z5410018487809_5db3299a7bcd5fa7c63b8b99cf16ceea.jpg Z5410018482626_3e32aec4ef449c6703b6b63de39033ec.jpg Z5410018478338_1798161abc63737ad09dd48c9609e17b.jpg

SÁCH CHÍNH TRỊ - PHÁP LUẬT

Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

Những chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Tập 1 - Phần 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:55' 15-03-2024
Dung lượng: 773.6 KB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích: 0 người
Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 127

Phaàn II

NHÖÕNG CHIEÁN SÓ CAÙCH MAÏNG
TRUNG KIEÂN

128 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 129

Moät loøng trung thaønh voâ haïn
vôùi Ñaûng
Bót Pô-lô nằm trên đường Ga-li-ê-ni, gần Chợ
Lớn. Đó là một ngôi nhà to lớn, bề ngoài trông cũng bình
thường như những công sở khác, nhưng bên trong lại là sào
huyệt của bọn khát máu, đầy rẫy những phòng tra tấn với
những dụng cụ tối tân, những phòng giam kín mít, hôi hám
đến nghẹt thở. Tất cả cái “văn minh” của bọn thực dân Pháp
được phơi bày ra ở đây. Phía sau, một hàng rào chấn song sắt
to bằng bắp tay bao quanh nhà giam. Có lẽ vẫn chưa chắc
chắn, chúng còn xây một dãy tường cao dày, trên lởm chởm
những mảnh chai nhọn hoắt, những cọc sắt chằng chịt dây
điện trần.
Bọn thực dân đã bí mật ra chỉ thị cho bọn tay sai dùng
mọi cách tra tấn, buộc anh Phú phải cung khai. Mác-ty, thằng
mật thám khét tiếng gian ác, nham hiểm trực tiếp điều khiển

130 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

các buổi khảo cung. Với mọi thủ đoạn tra tấn, Mác-ty tưởng
có thể nuốt chửng được anh. Nhưng không! Tất cả những
thứ đó đều vô hiệu.
Cả người Trần Phú lẫn chiếc ghế bị hắt xuống một bể
nước đen ngòm, đầy máu, phân, nước giải của bao nhiêu
chiến sĩ. Một mùi tanh thối, một vị chát mặn. Tất cả ộc vào
mồm vào mũi. Dòng điện có nước mặn càng tăng cường độ,
tăng sức phá hoại. Anh Phú nhắm mắt, nghiến răng, nín thở
và cuối cùng mê man, bất tỉnh.
Mấy hôm nay, sau khi cho nếm mùi tra điện, bọn hắn
đã giao anh Phú cho tên du côn ở phòng quyền anh dùng
những quả đấm như búa bổ làm vẹo cả quai hàm, gãy cả một
dãy răng. Nhưng anh chẳng hề hé miệng nói nửa lời. Anh chỉ
nhổ một bãi nước bọt lầy nhầy những máu vào mặt tên sát
nhân và nhìn hắn một cách khinh bỉ. Hôm nay thằng cáo già
này lại giở giọng nhân đức. Trần Phú quá rõ tâm địa kẻ thù
liền nói:
- Các người đừng hỏi gì vô ích. Ta không thể đem công
việc của Đảng ta nói cho các người nghe. Các người bằng
lòng vậy.
Chúng lột hết quần áo anh, trói giật cánh khuỷu rồi
treo ngược lên xà nhà, đầu chúc xuống, cổ đeo một tảng đá
nặng. Một thằng du côn lực lưỡng cầm chiếc roi mây bện,
quật tới tấp vào lưng, vào đầu anh. Anh Phú vẫn im lặng,
nghiến răng chịu đựng.

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 131

- Thế nào? - Tên Cam-ba-na quỷ quyệt bước lại gần.
- Không, không bao giờ…
Chúng thay nhau kéo lên, thả xuống, đưa qua, đẩy
lại. Cuối cùng chúng kéo lên cao rồi bất thần thả xuống rất
nhanh. Toàn thân anh lao theo tảng đá, đầu đập vào đá, anh
lại ngất đi.
Cứ như thế, hết ngày này qua ngày khác, người anh
không còn ra hình thù gì nữa. Chân tay, mình mẩy đầy
thương tích, mắt sưng vù lên. Nhưng anh vẫn chiến đấu một
cách ngoan cường bằng thứ vũ khí kỳ lạ: im lặng. Bọn Mácty, Cam-ba-na lúc đầu hùng hổ bao nhiêu thì giờ đây lại tiu
nghỉu bấy nhiêu. Chúng muốn tìm cái sức mạnh kinh khủng
trong con người bé nhỏ đó. Cái gì đã làm cho anh ta có thể
chịu đựng được những đòn hiểm hóc như vậy? Ngoài mặt,
chúng có vẻ cứng cỏi, nhưng trong thâm tâm đã thấy khiếp
sợ. Chúng phải để anh nằm yên trong mười ngày cho lại sức.
Chính chúng cũng sợ anh chết.
Cuối cùng bọn chúng phải đưa anh ra tòa án. Hôm đó
đồng chí Phùng và nhiều đồng chí khác cũng bị giải ra phòng
hội thẩm một lần với anh Phú. Người nào cũng bị đánh đập,
tra tấn nhưng ai cũng còn có thể đi được. Chỉ riêng anh Phú
là phải có hai người dìu hai bên. Nhìn thấy anh, đồng chí
Phùng vừa kinh ngạc, vừa đau xót. Đồng chí không tài nào
nhìn ra được những nét quen thuộc trong con người anh
Phú. Thân hình anh đầy những vết lở lói, tóc rối bù, dài, che
kín gáy, râu mọc tua tủa, quần áo rách tươm, bê bết máu,

132 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

chây tay khẳng khiu chỉ còn da bọc xương, đeo lủng lẳng
những ổ xiềng nặng nề. Duy chỉ có đôi mắt là không thay
đổi. Đôi mắt ấy nhìn các đồng chí thân thiết, trìu mến, ánh
lên một niềm tin mãnh liệt, truyền tới mọi người một sức
mạnh: “Hãy giữ vững tinh thần”. Và khi nó dán vào kẻ thù thì
như nảy lửa dữ dội.Bọn mật thám, lính kín không thằng nào
dám nhìn thẳng vào anh.
Hôm đó có nhiều người đã được chứng kiến một cuộc
đối chất thật dũng cảm, rõ ràng, làm cho họ thêm phấn khởi,
tin tưởng vào vị lãnh tụ của mình.
Tên bồi thẩm Goóc-xơ, một con cáo già chuyên xử
những vụ án chính trị lớn ở tòa án Sài Gòn, đã phải chạm
trán lần cuối cùng với Trần Phú trong phiên tòa hôm ấy. Do
lời khai của Trì, nó đã nắm được ít nhiều tài liệu về cuộc đời
hoạt động của anh. Nó giở thủ đoạn nhà nghề ngay từ phút
đầu. Nó trịnh trọng rút một tập hồ sơ dày, nghếch đôi mắt
cú liếc nhanh những hàng chữ đen đặc, rồi dương dương tự
đắc, hất hàm hỏi:
- Có phải ông là Trần Phú không?
- Phải.
- Có phải ông qua Trung Quốc năm 1926 rồi qua Nga,
học trường Đại học Đông Phương, cuối năm 1929 thì về
nước?
- Phải.
- Ông giữ chức vụ Tổng Bí thư?

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 133

- Phải.
Tên Goóc-xơ vừa ngạc nhiên luống cuống, vừa mừng
rỡ. Hắn biết rất rõ về con người này. Mặc dù bị tra tấn ghê
gớm, anh vẫn không hề hé răng khai nửa lời, kể cả họ tên,
quê quán… thế mà giờ đây hắn không ngờ hắn hỏi gì anh
cũng nhận một cách dễ dàng như vậy. Hay là Trần Phú đã ăn
năn, sợ chết?!... Hay là thủ đoạn của hắn sắp thành công?...
Hay là… anh ta có ý định gì chăng? Đầu óc Goóc-xơ rối
loạn, không còn đủ minh mẫn để xét đoán người tội phạm
cực kỳ quan trọng này. Nhưng rồi theo thói quen nhà nghề,
hắn tỏ ra mừng rỡ, ân cần. Hắn quát bọn tay sai đưa ghế mời
anh ngồi, tự tay cởi xiềng cho anh, mời anh hút thuốc lá và
“xin lỗi” về cái “thiếu xít” là đã để cho bọn tay chân ngược
đãi anh một cách quá đáng. Rồi hắn giở giọng mua chuộc và
dọa khéo:
- À! Chắc ông đã biết tin tòa án Nam triều ngày 11
tháng 10 năm 1929 ở Vinh đã kết án xử tử vắng mặt ông
cùng với Nguyễn Ái Quốc và nhiều người khác. Vừa rồi họ
điện yêu cầu chúng tôi giao ông cho họ để họ thi hành bản
án đó. May cho ông còn ở đây chứ giá chúng tôi trả ông về
Trung kỳ, chắc chính phủ Nam triều chẳng để ông yên.
Không chút ngập ngừng, Trần Phú nói thẳng vào mặt
tên bồi thẩm Pháp:
- Này, ta nói cho các người biết, với kẻ nào khác, các
người hãy giở cái giọng ấy. Với ta, ta khuyên các người đừng
giở trò ấy ra làm gì. Các người dọa đưa ta về Trung kỳ ư? Tùy

134 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

ý các người. Ta không sợ. Ta ở đâu cũng thế, điều ấy đối với
ta không quan hệ.
Tên Goóc-xơ luống cuống thanh minh là không có ý
định đó. Sở dĩ hắn nhắc lại việc ấy là muốn nói để anh biết
ý định “tốt” của chúng đối với anh. Rồi hắn đấu dịu, mềm
mỏng mỉm cười, đem tất cả hồ sơ mà Trì đã khai đọc cho
anh nghe và tiếp tục hỏi:
- Ở Trung ương Đảng, ông làm việc với ai?
- Một mình.
- Trung ương Đảng có bao nhiêu người?
- Một người.
Tên bồi thẩm vờ suy nghĩ và tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Ông nói vô lý quá. Tôi tưởng cơ quan chỉ huy Đảng
phải đông người chứ. Và ông làm việc tất nhiên phải trực
tiếp với nhiều người khác chứ. Thế mà ông nói ông làm việc
một mình. Thật tôi không thể nào tin được.
Câu trả lời gọn và sắc của anh Phú như một gáo nước
lạnh giội xuống đầu tên thực dân quỷ quyệt:
- Ta trả lời thế, các người không hiểu sao? Phải, Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương có nhiều người. Và trong
khi làm việc, ta còn trực tiếp với người này người khác.
Nhưng ta biết nhiều người là để làm việc cho Đảng, cho
nước ta, chứ không phải để khai ra cho các người bắt bớ.
Tên Goóc-xơ chưng hửng như mèo bị cắt tai, mặt hắn

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 135

đỏ bừng lên rồi tím lại. Nhưng hắn vẫn chưa chịu thua, hắn
cố nén giận:
- Thôi, ông Trần Phú ạ, ông không nên giấu giếm vô
ích. Bao nhiêu đồng chí của ông đã khai rồi…
Bỗng nhiên anh Phú cười thích thú:
- Phải, các người cứ tin lời khai của những thằng ham
sống sợ chết nói càn ấy đi, không ai ngăn cấm các người.
Đúng, tất cả những lời khai của bọn nó đều đúng cả, các
người nên gặp chúng hỏi thêm. Ta không ngờ những con
người già đời lừa đảo như các người mà còn ngu ngốc đến
như vậy.
Trước câu nói vừa mỉa mai đả kích vừa úp mở của anh,
tên bồi thẩm lúng túng. Còn các đồng chí ta thì biết rất rõ ý
định của anh Phú. Thật ra anh Phú biết tên phản bội đã khai
hết bí mật của Đảng rồi. Trước tình hình ấy, anh thấy cần
phải đánh lạc hướng địch, làm cho chúng nghi ngờ những
điều mà tên phản bội đã khai với chúng. Muốn thế, chỉ còn
một cách là nhận hết những lời chúng khai. Bọn địch ít ra
cũng phải suy nghĩ: “Tại sao một người mà chúng tra tấn mãi
không khai, giờ lại nhận tất cả. Phải chăng những điều khai
của bọn kia là không đúng sự thật?”. Quả nhiên thằng Goócxơ bị anh đưa vào tròng. Tuy vậy, hắn vẫn cố vớt vát:
- Hay là tôi bảo họ đến để ông nhận mặt. Hay là ông
tạm xem ảnh đây.
Anh Phú gạt đi:

136 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

- Các người muốn dẫn cả trăm người ra nhận mặt ta
cũng được, ai muốn biết Trần Phú thì biết, Trần Phú không
biết ai hết.
Goóc-xơ thất vọng, bỏ bút xuống và cho dẫn Trần Phú
về Khám Lớn. Chúng nhốt anh xuống hầm tối – chiếc hầm
vuông mỗi bề không quá hai mét, nằm sâu xuống lòng đất,
bốn bề xây đá, thiếu cả ánh sáng lẫn khí trời. Đã thế, bọn giặc
còn cẩn thận còng tay, xích chân phạm nhân. Anh Phú lúc
này chỉ còn là một bộ xương được bọc da. Chế độ hà khắc
của nhà tù đế quốc và vi trùng lao đang gặm dần cơ thể, tàn
phá đời anh, Không để cho kẻ thù xử sự với mình như vậy
được, anh Phú đã anh dũng đấu tranh bằng cách không ăn,
không uống.
Một tuần lễ qua, rồi mười ngày, mười hai ngày. Bọn thực
dân hoảng hốt trước tinh thần bất khuất của anh. Chúng sợ
anh chết. Chúng vội vàng tiêm thuốc hồi sinh, bơm sữa và
trứng gà vào hậu môn của anh. Anh Phú lại sống, và lần này
chúng phải đưa anh về Khám Lớn ở chung với các đồng chí
tù chính trị. Các đồng chí hết lòng săn sóc cứu chữa, nhưng
sức khỏe anh vẫn không hồi phục được.
......
Anh Phú đã tắt thở trên tay bốn đồng chí của mình.
Anh đã mất khi tuổi đời mới hai mươi bảy. Anh giữ trách
nhiệm Tổng Bí thư chỉ mới được một năm.
Tin đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư của Đảng, đã hy
sinh truyền về Khám Lớn Sài Gòn làm cho tất cả các đồng

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 137

chí trong khám vô cùng đau xót. Những con người cộng sản
kiên cường bất khuất không hề hé răng rên rỉ một lời trước
bất cứ hình thức tra tấn cực kỳ dã man nào của quân thù,
nhưng tiếc thương anh Trần Phú - người đồng chí vĩ đại họ đã khóc! Từ Khám Lớn Sài Gòn, tin đồng chí Trần Phú
hy sinh truyền nhanh ra toàn quốc rồi bay đến tận Pa-ri,
Mátxcơva…
Đồng chí Trần Phú tuy đã mất nhưng anh đã để lại
cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Luận cương chính trị nổi
tiếng. Anh đã để lại cho chúng ta một tấm gương sáng chói
về năng lực lãnh đạo cách mạng, về khí tiết của một người
cộng sản và lời trăng trối cuối cùng: “Hãy giữ vững chí khí
chiến đấu!”.
Đúng như Bác Hồ đã nói: “Đồng chí Trần Phú là một
người con ưu tú của Đảng và nhân dân đã oanh liệt hy sinh
cho cách mạng”.
Nguồn: “Chuyện kể về Trần Phú”,
NXB Kim Đồng, Lê Quốc Sử - Phạm Đức Dương, năm 2011.

138 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

Cuoäc ñôøi caùch maïng oanh lieät
Ñồng chí Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn,
sinh năm 1902 tại xã Thông Lạng (nay là xã Hưng Thông),
huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, trong gia đình nông dân.
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có truyền thống yêu nước,
với nhiều sĩ phu nổi tiếng, tận mắt chứng kiến cảnh đất nước
lầm than, nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột, Lê Hồng
Phong đã sớm nuôi trong mình tư tưởng yêu nước và ý chí
làm cách mạng.
Sau khi học xong sơ học yếu lược, Lê Hồng Phong đã
rời làng ra thành phố, đầu tiên ở Vinh, sau là Bến Thủy, sống
cảnh làm thuê, làm mướn. Không chịu đựng nổi cảnh bóc
lột và áp bức của giới chủ, Lê Hồng Phong và những người
cùng tâm huyết đã vận động anh chị em công nhân nổi dậy
đấu tranh. Vì lẽ đó mà Lê Hồng Phong bị đuổi việc.
Cuối năm 1923, Lê Hồng Phong cùng người bạn thân
là Phạm Hồng Thái bí mật sang Xiêm (Thái Lan) gặp các
nhà yêu nước Việt Nam. Năm 1924, Lê Hồng Phong sang
Quảng Châu (Trung Quốc) gia nhập nhóm Tâm Tâm xã

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 139

và sau đó được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được Người
giác ngộ cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Kể từ đó
Lê Hồng Phong quyết tâm đi theo con đường cứu nước của
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1925, Lê Hồng Phong gia nhập Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên và tham dự lớp huấn luyện cán bộ
do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức, trở thành một trong
những cán bộ lãnh đạo lớp đầu tiên của cách mạng nước
ta. Đồng chí đã được học tập toàn diện về quân sự và chính
trị tại Trường Quân sự Hoàng Phố, Trường Không quân ở
Quảng Châu (Trung Quốc), Trường Lý luận Quân sự của
lực lượng không quân Xô viết ở Lêningrat, Trường Đào
tạo phi công quân sự ở Bôritơlepxcơ (Liên Xô). Sau khi tốt
nghiệp, Lê Hồng Phong đã hoạt động trong lực lượng Hồng
quân Xô viết và nhận trọng trách liên lạc giữa Đảng Cộng
sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản. Trong thời gian
này, đồng chí được học tập lý luận cách mạng một cách hệ
thống tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng
sản ở Mátxcơva, tốt nghiệp khóa ba năm (1928 - 1931), sau
đó vào học tiếp năm thứ nhất lớp nghiên cứu sinh.
Sau cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931), do sự
khủng bố dã man và tàn bạo của thực dân Pháp, cách mạng
Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn và tổn thất nặng nề. Hầu
hết các ủy viên Trung ương, các xứ ủy viên đều bị bắt hoặc bị
sát hại; hàng trăm cán bộ, hàng nghìn đảng viên bị bắt bớ, tù
đày. Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phần nhiều
bị tan vỡ hoặc tê liệt. Trước tình hình đó, tháng 11 năm

140 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

1931, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong
về nước để lãnh đạo việc khôi phục, phát triển tổ chức Đảng,
đưa cách mạng Đông Dương vượt qua giai đoạn khó khăn,
hiểm nghèo.
Đầu năm 1932, khi đến thành phố Nam Ninh, Quảng
Tây (Trung Quốc), Lê Hồng Phong đã chắp nối liên lạc với
các đồng chí trung kiên, cùng vạch ra Chương trình hành
động của Đảng, được Quốc tế Cộng sản thông qua. Chương
trình hành động của Đảng là một văn kiện chính trị quan
trọng, khẳng định sự đúng đắn và nhất quán với đường lối
cách mạng được Đảng ta vạch ra từ năm 1930, đánh giá cao
thắng lợi của quần chúng cách mạng trong cao trào 1930
- 1931, đồng thời nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong
Đảng và đề ra yêu cầu kiên quyết khắc phục sai lầm, đưa
cách mạng tiến lên.
Tháng 3 năm 1934, Lê Hồng Phong cùng một số đồng
chí tiến hành Hội nghị thành lập Ban lãnh đạo của Đảng ở
ngoài nước (lúc đó gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng).
Ban Chỉ huy ở ngoài có chức năng như một Ban Chấp hành
Trung ương lâm thời do đồng chí Lê Hồng Phong làm Bí thư,
đồng chí Hà Huy Tập là Ủy viên phụ trách công tác tuyên
huấn. Ban Chỉ huy ở ngoài đã chuẩn bị và quyết định triệu
tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung
Quốc) từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 3 năm 1935. Đại hội
đã thông qua Nghị quyết chính trị, Điều lệ Đảng, một số văn
kiện quan trọng khác và bầu Ban Chấp hành Trung ương
gồm 13 ủy viên do đồng chí Lê Hồng Phong đứng đầu.

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 141

Cuối năm 1934, Lê Hồng Phong dẫn đầu Đoàn đại
biểu Đảng ta đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại
Mátxcơva (Liên Xô) từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 25 tháng
8 năm 1935. Đồng chí đã trình bày một bản báo cáo quan
trọng về cuộc đấu tranh của các dân tộc ở Đông Dương và
đã được đại hội đánh giá cao. Đại hội đã thông qua quyết
nghị công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một phân
bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản và bầu đồng chí Lê Hồng
Phong làm Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
Tháng 7 năm 1936, tại Thượng Hải, đồng chí triệu tập
và chủ trì Hội nghị Trung ương bổ sung Nghị quyết Đại hội
lần thứ nhất, chỉ đạo chuyển hướng tổ chức và sách lược của
Đảng, chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân
phản đế rộng rãi, bao gồm các hình thức đấu tranh, hình
thức hoạt động phong phú từ bí mật, bất hợp pháp đến công
khai, bán công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, nhằm mục
đích “dự bị điều kiện cho cuộc vận động dân tộc giải phóng
được phát triển”, chuẩn bị về mọi mặt để đưa phong trào
cách mạng chuyển sang cao trào 1936 - 1939.
Tháng 11 năm 1937, Lê Hồng Phong bí mật về Sài
Gòn, cùng Trung ương tích cực chỉ đạo việc thực hiện chủ
trương chiến lược mới của Đảng.
Ngày 22 tháng 6 năm1939, Lê Hồng Phong bị thực
dân Pháp bắt lần thứ nhất tại Chợ Lớn và kết án 6 tháng
tù giam. Ngày 23 tháng 12 năm 1939 chúng đưa đồng chí
về quản thúc tại quê nhà ở Nghệ An. Ngày 20 tháng 1 năm

142 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

1940, đồng chí bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai, giam tại
khám Lớn, Sài Gòn; cuối năm 1940, chúng đày đồng chí
ra Côn Đảo. Tại đây, biết Lê Hồng Phong là nhân vật quan
trọng của Đảng, thực dân Pháp tìm mọi cách tra tấn, hành
hạ rất dã man. Đồng chí vẫn nêu cao chí khí cách mạng,
không khai báo một lời, đồng thời tích cực vận động và chỉ
đạo anh em tù đấu tranh chống địch đánh đập, chống lại
những luật lệ hà khắc của nhà tù. Sức khỏe suy kiệt dần vì
đòn thù và bệnh tật, đồng chí đã trút hơi thở cuối cùng vào
trưa ngày 6 tháng 9 năm 1942 sau khi đã nhắn lại “Nhờ các
đồng chí báo cáo với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê
Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang
của cách mạng”.
Bốn mươi tuổi đời, hai mươi năm hoạt động cách
mạng liên tục, oanh liệt và đầy nhiệt huyết, đồng chí Lê
Hồng Phong đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp
cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Đồng chí đã để lại
tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, tình yêu gia đình,
quê hương, đất nước, suốt đời hy sinh cho độc lập, tự do của
Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân, tận trung với Đảng, tận
hiếu với dân, son sắt thủy chung với đồng chí, bạn bè, luôn
lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng.
Để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học quý

Cuộc đời hoạt động cách mạng và sự cống hiến của
đồng chí Lê Hồng Phong đã để lại cho chúng ta những bài
học hết sức quý giá:

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 143

Là người chủ trì công việc của Đảng trong thời kỳ cách
mạng thoái trào đầu những năm 30 của thế kỷ XX, khi cả
đất nước chìm ngập trong làn sóng khủng bố trắng của địch,
tưởng chừng không vượt qua nổi, đồng chí Lê Hồng Phong
đã cùng với Trung ương tiến hành một loạt công tác tỉ mỉ,
kiên trì, sáng tạo nhằm khôi phục Đảng, khôi phục phong
trào cách mạng, giữ vững ý chí chiến đấu của nhân dân, nuôi
niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng. Trong đó, việc đề
ra Chương trình hành động và lập Ban Chỉ huy ở ngoài của
Đảng là hai sự kiện có tầm quan trọng hàng đầu. Đồng chí
đã kết hợp nhuần nhuyễn được hai yêu cầu cơ bản trong
công tác của một người lãnh đạo là vừa quan tâm những vấn
đề chiến lược, tổng quát; vừa chỉ đạo những công việc cụ
thể, thiết thực, có hiệu quả. Trong những năm 1933 - 1934,
cùng với việc đề ra chương trình hành động của Đảng, đồng
chí còn dịch một số tài liệu và viết cuốn sách “Tình hình thế
giới và cách mạng Đông Dương” để tuyên truyền, vận động
cách mạng. Đồng thời cùng các đồng chí của mình chỉ đạo
lập ra các ban cán sự đảng ở Cao Bằng, Lạng Sơn, cử người
đi gây dựng lại các cơ sở đảng ở Hà Nội, Hải Phòng, Hòn
Gai...
Sau khi khôi phục được phong trào cách mạng, đồng
chí Lê Hồng Phong đã góp phần cùng Trung ương Đảng
chuẩn bị những tiền đề tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc
hình thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Đồng chí đã có
công lớn trong việc chuyển hướng chiến lược và sách lược
đấu tranh nhằm tập hợp rộng rãi quần chúng xung quanh

144 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

Đảng. Trong thời gian bị địch giam cầm, quản thúc, đồng
chí vẫn tham gia trên mặt trận lý luận. Hàng chục bài viết của
đồng chí được bí mật gửi, đăng tải trên các tờ báo của Đảng,
nhất là báo Dân Chúng, thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan
cường, không một phút nghỉ ngơi của người chiến sĩ cộng
sản. Có được sự trưởng thành như vậy, phần quan trọng là
do Lê Hồng Phong đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực
tiếp giáo dục, đào tạo, rèn luyện và thường xuyên chỉ đạo.
Từ một thanh niên yêu nước đi tìm đường cách mạng, Lê
Hồng Phong đã sớm gặp được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc,
đến với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và trở thành
một học trò ưu tú của Người.
Ở Lê Hồng Phong, một trong những phẩm chất nổi
bật là tấm gương học tập và rèn luyện. Không được học tập
đầy đủ khi tuổi còn niên thiếu, lớn lên đi hoạt động cách
mạng, đồng chí càng khát khao trau dồi kiến thức, tranh thủ
mọi điều kiện, ở mọi lúc, mọi nơi để học tập. Trong thời
gian ở Trung Quốc và Liên Xô, Lê Hồng Phong đã trải qua
nhiều trường, nhiều lớp; có khi lớp học cũ chưa xong, hoàn
cảnh buộc chuyển sang lớp học mới; học quân sự, học chính
trị, học lý luận... Có thể nói, trong số những cán bộ hoạt
động cách mạng lúc bấy giờ, Lê Hồng Phong là người được
trang bị nhiều kiến thức ở nhà trường nhất. Điều đó giúp
đồng chí rất nhiều trong công tác, nhất là khi phải chủ trì
công việc trọng đại của Đảng.
Đồng chí luôn gắn việc học tập với hoạt động cách
mạng, rèn luyện trong tổ chức và chỉ đạo thực tiễn. Việc

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 145

chắp nối, liên lạc để khôi phục các tổ chức cơ sở Đảng ở
trong nước và chủ trương đưa địa bàn hoạt động về trong
nước thay vì chỉ đạo từ xa đã nói lên điều đó. Lê Hồng Phong
là một tấm gương mẫu mực trong việc kết hợp giữa học và
hành, lý luận và thực tiễn.
Đồng chí Lê Hồng Phong còn là một nhà hoạt động
quốc tế nhiệt thành. Ở đồng chí, thể hiện rất sâu sắc lòng
yêu nước kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản, cách mạng
Việt Nam kết hợp với cách mạng thế giới. Đồng chí tìm
thấy ở các nước bè bạn một địa bàn hoạt động khi điều kiện
trong nước còn khó khăn; một môi trường học tập, rèn luyện
thuận lợi; một nơi cùng phối hợp, liên kết, ủng hộ lẫn nhau
trong hoạt động cách mạng. Chính nhờ mối liên hệ quốc
tế đó mà nhãn quan chính trị và tầm hiểu biết của đồng
chí rộng rãi và sâu sắc hơn, giúp giải quyết có hiệu quả hơn
những nhiệm vụ cách mạng của nước ta đặt ra trong thời kỳ
đó. Trong những năm học tập tại Trung Quốc và Liên Xô,
đồng chí đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc
và Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau này, trên cương vị là Ủy viên
Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, đồng chí càng có điều
kiện để cùng Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta gắn kết
phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng
thế giới, giúp phong trào cộng sản quốc tế hiểu rõ hơn về
cách mạng Việt Nam, về Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bầu nhiệt huyết và trái tim cộng sản

Đồng chí Lê Hồng Phong là một tấm gương hiến dâng

146 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân.
Từ lúc lớn lên cho đến lúc hy sinh, đồng chí luôn đặt lợi
ích của cách mạng lên trên lợi ích của cuộc sống riêng và
hạnh phúc gia đình. Bầu nhiệt huyết và trái tim cộng sản của
đồng chí luôn luôn dành cho Đảng và nhân dân. Vì Đảng,
vì dân, Lê Hồng Phong chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, từ
biệt gia đình bôn ba đi tìm đường cách mạng. Và cũng vì
Đảng, vì dân, Lê Hồng Phong nhiều lần trở về nước để hoạt
động, gây dựng phong trào cách mạng, dù biết rằng kẻ thù
luôn rình rập, đe dọa tính mạng; và đã hy sinh cả tình riêng,
cả bản thân mình. Người đồng chí, người bạn đời yêu dấu
của đồng chí - chị Nguyễn Thị Minh Khai - cũng bị địch bắt
và kết án tử hình năm 1941. Hai nhà lãnh đạo yêu quý của
chúng ta đã hy sinh vì nghĩa lớn, để lại đứa con thơ khi mới
hơn 2 tuổi.
Cuộc đời đồng chí Lê Hồng Phong trong như giọt
sương mai, đẹp như ánh dương buổi sớm. Tấm gương chiến
đấu kiên cường và sự hy sinh lẫm liệt của đồng chí Lê Hồng
Phong vì độc lập dân tộc và lý tưởng cộng sản sống mãi
trong trái tim các thế hệ người Việt Nam chúng ta.
Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí luôn nhắc nhở
mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao ý chí cách mạng, tự giác phấn
đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người cộng sản, kiên
trì học tập nâng cao trình độ mọi mặt, tích cực hoạt động
thực tiễn, đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng và nhân dân
lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự
nghiệp vẻ vang của Đảng, của dân tộc.

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 147

Học tập và noi gương đồng chí Lê Hồng Phong và các
bậc cách mạng tiền bối khác, chúng ta tiếp tục thực hiện tốt
việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết
Trung ương 4 khóa XI, tích cực đấu tranh chống các biểu
hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, đấu
tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng
và mọi biểu hiện tiêu cực khác; xây dựng Đảng ta ngày càng
trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, lãnh
đạo toàn dân ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết
Đại hội XI của Đảng, từng bước xây dựng một nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.
Nguồn: Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng tại lễ míttinh kỷ niệm 110 năm Ngày sinh
Tổng Bí thư Lê Hồng Phong (6.9.1902 - 6.9.2012)

148 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

Ñoàng chí Nguyeãn Vaên Cöø,
taøi naêng chính trò kieät xuaát
cuûa Ñaûng ta
Ñồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9 tháng 7 năm
1912, trong một gia đình nhà Nho nghèo, thuộc dòng tộc
Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, tại một vùng quê văn hiến,
làng Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Là người thông minh, có chí lớn ngay từ khi còn đi
học, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng khi mới 16
tuổi, được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng khi 26 tuổi (năm
1938) và bị thực dân Pháp giết hại lúc 29 tuổi (năm 1941).
Cuộc đời đồng chí Nguyễn Văn Cừ tuy ngắn ngủi nhưng vô
cùng trong sáng và cao đẹp. Những cống hiến to lớn và sự hy
sinh oanh liệt của đồng chí đã góp phần làm rạng danh Tổ
quốc ta, dân tộc ta; tô thắm thêm lịch sử và truyền thống vẻ
vang của Đảng ta. Có thể khái quát một số điểm quan trọng,
nổi bật về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Văn
Cừ như sau :

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 149

Một, đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một tấm gương tiêu
biểu về tinh thần tự học tập, rèn luyện và trưởng thành qua
thực tiễn cách mạng.
Từ một học sinh đang học trung học (Trường Bưởi),
với lòng yêu nước, sự nhạy cảm chính trị và nhiệt huyết
cách mạng, đồng chí đã tiếp cận và giác ngộ chủ nghĩa MácLênin, sớm trở thành hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên do Bác Hồ sáng lập.
Thực tiễn và phong trào cách mạng đã tôi luyện người
thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Cừ trong thời gian đi “vô
sản hóa” ở vùng mỏ Vàng Danh, Mạo Khê,... (Quảng Ninh)
trở thành người chiến sĩ cộng sản, nhà hoạt động cách mạng
chuyên nghiệp. Đồng chí đã nhận thức được khả năng to lớn
của giai cấp công nhân Việt Nam, đã giác ngộ, vận động họ
đứng lên làm cách mạng.
Với tinh thần vừa làm vừa học, năng động, sáng tạo
trong lý luận và thực tiễn, đồng chí tổ chức nhiều cuộc mít
tinh, kêu gọi công nhân đấu tranh. Tờ báo Than do Nguyễn
Văn Cừ trực tiếp chỉ đạo và là người biên tập chính, đã được
phát hành rộng rãi trong vùng, có tác dụng rất lớn trong việc
tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, cổ vũ và hướng dẫn quần
chúng đấu tranh. Sau hai năm “vô sản hóa”, Nguyễn Văn Cừ
đã trở thành một cán bộ lãnh đạo chủ chốt của phong trào
công nhân vùng mỏ.
Khi bị địch bắt, bị giam cầm, tra tấn tại nhà tù Côn
Đảo, Nguyễn Văn Cừ đã cùng với các đồng chí của mình

150 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

“biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”. Chính
tại nơi “địa ngục trần gian” này, Nguyễn Văn Cừ được tiếp
cận các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin; được
các đồng chí lớn tuổi hơn có nhiều kinh nghiệm và trình
độ lý luận giúp đỡ, đồng chí đã nắm bắt được nhiều vấn đề
lý luận, tiếp thu được những quan điểm, nguyên lý của chủ
nghĩa Mác-Lênin, từ đó nghiền ngẫm, đúc rút các bài học soi
rọi cho quá trình hoạt động thực tiễn của mình.
Dù chưa có điều kiện nghiên cứu một cách hệ thống về
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng Nguyễn
Văn Cừ đã sớm có những nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa
quốc tế vô sản, có nhiều bài viết nhiệt thành ủng hộ cách
mạng Trung Quốc, chỉ đạo những cuộc vận động quyên góp
tiền ủng hộ các chiến sĩ cách mạng Trung Quốc; viết một số
bài báo bày tỏ sự ủng hộ Liên Xô vào Hội Quốc liên,...
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện tư chất của một
người cộng sản có tầm nhìn xa rộng, có quyết tâm và nghị
lực lớn, có khả năng phân tích, khái quát, nhận định chính
xác các vấn đề trong nước và quốc tế theo tinh thần phương
pháp luận Mác-Lênin, sớm trở thành một tài năng chính trị
kiệt xuất của Đảng ta.
Hai, đồng chí Nguyễn Văn Cừ có tư duy lý luận sắc
sảo, sáng tạo; nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn được đồng
chí giải quyết một cách nhuần nhuyễn, phù hợp với thực tế
Việt Nam.
Sáng kiến thành lập Mặt trận Thống nhất dân chủ của

Nhöõng chieán só caùch maïng trung kieân / 151

đồng chí Nguyễn Văn Cừ tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3 năm 1938, chứng
tỏ đồng chí nắm vững chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm chỉ
đạo của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản, tập trung vào
nhiệm vụ xây dựng mặt trận chống phát xít.
Tác phẩm Các quyền tự do dân chủ với nhân dân Đông
Dương của đồng chí đã luận giải trúng và có sức thuyết phục
những vấn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở đó giúp Đảng ta đưa
ra những quyết sách chiến lược, sách lược trong thời kỳ Mặt
trận dân chủ và giành thắng lợi.
Năm 1939, trước nguy cơ phát xít và Chiến tranh thế
giới lần thứ hai, thực dân Pháp trở mặt đàn áp phong trào
dân chủ, những phần tử tờrốtkít giả danh cách mạng cũng
ra mặt chống phá đảng Cộng sản. Trên cương vị Tổng Bí thư
của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo và tiến hành
một cuộc đấu tranh kiên quyết, sâu rộng trên mặt trận tư
tưởng, lý luận, nhằm chống bọn tờrốtkít và củng cố sự đoàn
kết, thống nhất trong nội bộ Đảng.
Với bút danh Trí Cường, Tổng Bí thư Nguyễn Văn
Cừ đã viết tác phẩm Tự chỉ trích. Đây là một đóng góp quan
trọng về lý luận vào công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng,
chính trị và tổ chức. Tác phẩm ra đời đã đáp ứng kịp thời yêu
cầu của tình hình mới, khi Đảng ta vừa hoạt động bí mật,
vừa hoạt động công khai; vừa chống “tả”, vừa chống “hữu”
nhằm đi đến sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Tác phẩm
thể hiện tư duy sắc sảo của một lãnh tụ già dặn về chính trị;
vừa tranh luận, vừa thuyết trình một cách sáng tỏ đường lối,

152 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

chính sách của Đảng - những khía cạnh biện chứng giữa cái
trước mắt và cái lâu dài, giữa sách lược và chiến lược, đánh
tan mọi sự mơ hồ, lẫn lộn lúc bấy giờ.
Ba, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã có những quyết định
đúng đắn, quan trọng, góp phần chuyển hướng chiến lược
của cách mạng nước ta ở những thời điểm lịch sử.
Đầu tháng 4 năm 1938, nhận thấy tình hình quốc tế
đang có những c...
 
Gửi ý kiến